Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. “Chương Đài” và “lữ thứ” trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm
Bài Chiều hôm nhớ nhà là như vậy. Nhan đề bài thơ có nơi chép là Cảnh chiều hôm rõ là không sát. Ông Hư Chu và ông Quách Tấn chê nhan để Chiều hôm nhớ nhà cũng không sát, vì theo ông Quách Tấn hai chủ đề của bài thơ là 'giữa đường xa' và 'ngày sắp hết' (Thi pháp thơ
Có bản chép tiêu đề là Buổi chiều lữ thứ, Chiều hôm nhớ nhà . Bài thơ này từng được sử dụng trong chương trình SGK Văn học 9 giai đoạn 1990-2006, nhưng đã được lược bỏ về sau. Nguồn: 1. Việt văn diễn giảng hậu bán thế kỷ thứ XIX, Nguyễn Tường Phượng, Phan Văn
Phân tích bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của bà Huyện Thanh Quan. Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan mãi mãi đưa đến cho chúng ta những cảm xúc chân thành, đậm đà trước nét buồn thanh tao, đưa đến những suy nghĩa sâu xa hơn về con người và xã hội.
Bài thơ một lần nữa khẳng định phong cách thơ thanh nhã, trang trọng của bà khi tác giả sử dụng thành. công một hệ thống từ Hán Việt. Cũng như ở bài thơ Chiều hôm nhớ nhà, ở bài thơ này phần lớn các từ. Hán Việt được đặt vào vị trí quyết định giá trị của
18UTt. Bài văn mẫu lớp 11Những bài văn mẫu hay lớp 11Văn mẫu lớp 11 Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan được VnDoc sưu tầm và giới thiệu giúp các em học sinh cùng quý thầy cô tham khảo, củng cố kỹ năng cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh QuanAi đã từng đọc "Truyện Kiều" chắc không thể nào quên được câu thơ của Nguyễn Du nói về hoàng hôn“Song sa vò võ phương trời,Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng".Cũng nói về hoàng hôn và nỗi buồn của kẻ tha hương, bài thơ "Chiều hôm nhớ nhà" của Bà Huyện Thanh Quan là một kiệt tác của nền thơ Nôm Việt Nam trong thế kỉ XIX"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,Tiếng ốc xa đưa vẳng trống mái, ngư ông về viễn phố,Gõ sừng, mục tử lại cô mai gió cuốn chim bay mỏi,Dặm liễu sương sa khách bước chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nổi hàn ôn?".Câu thơ đầu tả ánh hoàng hôn một buổi chiều viễn xứ. Hai chữ "bảng lảng" có giá trị tạo hình đặc sắc ánh sáng lờ mờ lúc sắp tối, mơ hồ gần xa, tạo cho bức tranh một buổi chiều thấm buồn"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn".Hai chữ "bảng lảng" là nhãn tự - như con mắt của câu thơ. Nguyễn Du cũng có lần viết 'Trời tây bảng lảng bóng vàng" Truyện Kiều.Chỉ qua một vần thơ, một câu thơ, một chữ thôi, người đọc cũng cảm nhận được ngòi bút thơ vô cùng điêu luyện của Bà Huyện Thanh với người đi xa, khoảnh khắc hoàng hôn, buồn sao kể hết được? Nỗi buồn ấy lại được nhân lên khi tiếng ốc tù và cùng tiếng trống đồn "xa đưa vẳng" lại. Chiều dài tiếng ốc, chiều cao tiếng trống đồn trên chòi cao của không gian được diễn tả qua các hợp âm ấy, đã gieo vào lòng người lữ khách một nỗi buồn lê thê, một niềm sầu thương tê tái. Câu thơ vừa có ánh sáng bảng lảng vừa có âm thanh tiếng ốc, trống dồn tạo cho cảnh hoàng hôn miền đất lạ mang màu sắc dân dã"Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn".Phần thực và phần luận, các thi liệu làm nên cốt cách bài thơ được chọn lựa tinh tế, biểu đạt một hồn thơ giàu cảm xúc. Ngư ông, mục tử, lữ khách... thế giới con người được nói đến. Cảnh vật thì có ngàn mai, có gió và sương, có "chim bay mỏi" ... Những thi liệu ấy mang tính chất ước lệ của thi pháp cổ người thì có ngư, tiều, cảnh vật, cây cỏ, hoa lá thì có phong, sương, mai, liễu, cánh chim chiều... nhưng với tài sáng tạo vô song chọn từ, tạo hình ảnh, đối câu, đối từ, đối thanh, ở phương diện nào, nữ sĩ cũng tỏ rõ một hồn thơ tài hoa, một ngòi bút trang trọng. Vì thế, cảnh vật trở nên có hồn, gần gũi, thân thuộc mang đậm bản sắc dân tà, ngư ông cùng con thuyền nhẹ trôi theo dòng sông về viễn phố bến xa với tâm trạng nhàn hạ, thoải mái. Động từ "gác mái" biểu đạt một tâm thế yên vui của ngư ông đang sống nơi miền quê yên ả, không bị ràng buộc bởi vòng danh lợi"Gác mái, ngư ông về viễn phố".Cùng lúc đó, lũ trẻ đánh trâu về chuồng, trở lại "cô thôn". Cử chỉ "gõ sừng" của mục đồng thể hiện sự hồn nhiên, vô tư, yêu đời"Gõ sừng, mục tử lại cô thôn".Đó là hai nét vẽ vẻ con người tạo nên hai bức tranh tuyệt đẹp nơi thôn dã vô cùng thân thuộc đáng câu luận tiếp theo đã mượn cảnh để tả cái lạnh lẽo, cô liêu, bơ vơ của người lữ khách trên nẻo đường tha hương. Trời sắp tối. Ngàn mai xào xạc trong "gió cuốn" gió mỗi lúc một mạnh. Cánh chim mỏi bay gấp gấp về rừng tìm tổ. Sương sa mịt mù dặm liễu. Và trên con đường sương gió, lạnh lẽo ấy chỉ có một người lữ khách, một mình một bóng đang "bước dồn" tìm nơi nghỉ trọ. Hai hình ảnh "chim bay mỏi" và "khách bước dồn" là hai nét vẽ đăng đối, đặc tả sự mỏi mệt, cô đơn. Con người như bơ vơ, lạc lõng giữa "gió cuốn" và "sương sa", đang sống trong khoảnh khắc sầu cảm, buồn thương ghê gớm. Câu thơ để lại nhiều ám ảnh trong lòng người đọc. Nghệ thuật đảo ngữ làm nổi bật cái bao la của nẻo đường xa miền đất lạ"Ngàn mai, gió cuốn chim bay mỏi,Dặm liễu, sương sa khách bước dồn".Bằng sự trải nghiệm của cuộc đời, đã sống những khoảnh khắc hoàng hôn ở nơi đất khách quê người, nữ sĩ mới viết được những câu thơ tả thực cảnh ngộ lẻ loi của kẻ tha hương có hồn đến thế!Hai câu kết hội tụ, dồn nén lại tình thương nhớ. Nữ sĩ cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Câu thứ bảy gồm hai vế tiểu đối, lời thơ cân xứng đẹp "Kẻ chốn Chương Đài// người lữ thứ. Chương Đài là điển tích nói về chuyện li biệt, nhớ thương, tan hợp của lứa đôi Hàn Hoành và Liễu thị đời nhà Hán xa xưa. Bà Huyện Thanh Quan đã vận dụng điển tích ấy một cách sáng tạo. "Chương Đài" và "lữ thứ' trong văn cảnh gợi ra một trường liên tưởng về nỗi buồn li biệt của khách đi xa nhớ nhà, nhớ quê hương da diết. Khép lại bài thơ là một tiếng than giãi bày một niềm tâm sự được diễn tả dưới hình thức câu hỏi tu từ. "Ai" là đại từ phiếm chỉ, nhưng ai cũng biết đó là chồng, con, những người thân thương của nữ sĩ. "Hàn ôn" là nóng lạnh; "nỗi hàn ôn" là nổi niềm tâm sự. Người lữ thứ trong chiều tha hương ấy thấy mình bơ vơ nơi xa xôi, nỗi buồn thương không sao kể xiết"Kẽ chốn Chương Đài, người lữ thứ,Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn?"."Chiều hôm nhớ nhà" và "Qua Đèo Ngang" hai kiệt tác thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Đó là chùm thơ của Bà Huyện Thanh Quan sáng tác trong những tháng ngày nữ sĩ trên đường thiên lí vào Kinh đô Huế nhận chức nữ quan trong triều Nguyễn. Có thể coi đó là những bút kí bằng thơ vô cùng độc đáo. Thơ của Bà Huyện Thanh Quan thấm một nỗi buồn li biệt hoặc hoài cổ, hay nói đến hoàng hôn, lời thơ trang nhã, sử dụng nhiều từ Hán-Việt bảng lảng, hoàng hôn, ngư ông, viễn phố... tạo nên phong cách trang trọng, cổ kính, nhạc điệu trầm bổng hấp dẫn. "Chiều hôm nhớ nhà" là một bông hoa nghệ thuật chứa chan tình thương nhớ, bâng khuâng....-Trên đây VnDoc hướng dẫn các bạn học tốt bài Văn mẫu lớp 11 Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan. Chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của bài viết rồi đúng không ạ? Bài viết đã gửi tới bạn đọc dàn ý và các bài văn mẫu. Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm nhiều tài liệu để học tập tốt hơn nhé. Ngoài ra các bạn có thể soạn bài Ngữ văn 11 được VnDoc sưu tầm, chọn lọc để học tốt môn Ngữ văn tiếp theo Một số thanh niên hiện nay vẫn cho rằng “Chỉ có tiền tài và địa vị thì mới có hạnh phúc”. Hãy dùng lập luận bác bỏ để phản bác tư tưởng đóHãy bàn luận ý kiến sau đây “Học trò phải kính yêu và biết ơn thầy, cô giáo"Nhiều ý kiến cho rằng chữ “hồng” là nhãn tự bài thơ Mộ Chiều tối của Hồ Chí Minh
bài thơ chiều hôm nhớ nhà