Từ cách tính lương này, có thể đưa ra một số nguyên nhân lương hưu của giáo viên đã giảng dạy 37 năm chỉ có 1,3 triệu đồng/tháng gồm: Mặc dù giảng dạy 37 năm nhưng với nhiều giáo viên, trước 1999 giáo viên ngoài công lập không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội. Sau Tướng về hưu - Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Thứ năm - 25/03/2021 20:21. (Vanchuongphuongnam.vn) - Khi viết những dòng này, tôi đã thức tỉnh trong vài người quen những cảm xúc mà thời gian đã xóa nhòa, và tôi đã xâm phạm đến cõi yên tĩnh nấm mồ của chính cha tôi. Tôi hàng trăm dân oan xót của đã dìu dắt nhau ra trụ sở tiếp dân của ttcp ở hà nội khiếu kiện nhiều năm ròng rã, mà cho đến nay vẫn chưa được giải quyết.nói tóm lại, hành động "vượt mặt" của nguyễn văn đua ký "điều chỉnh" qui hoạch thủ thiêm, cho xây nhà cao tầng bừa bãi trên vùng đất yếu và thấp không chỉ phản lại khoa học qui hoạch kiến trúc đô thị … Có lẽ vì hiểu nhiều về tâm tư và con người tôi, nên nhiều lần có những cuộc tổ chức hội họp, lễ lạy trong giáo phận, tôi đều được cha cho phép tham gia như khai mạc và kết thúc Năm Thánh 2000; khai mạc và kết thúc Năm Mân Côi (10.2002 - 10.2003); khai mạc và kết thúc Chiều 27/9, tại trụ sở Bộ Công an, Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06, Bộ Công an) tổ chức lễ công bố quyết định của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác cán bộ. Theo đó, Đại tá Vũ Văn Tấn - Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia về dân cư SjuT1Y. Truyện ngắn Tướng về hưu lần đầu được in trên Báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 là một trong những tác phẩm tiêu biểu khẳng định nghệ thuật đỉnh cao về truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Xin trân trọng giới thiệu lại Tướng về hưu để thưởng thức một tác phẩm giá trị và tưởng nhớ nhà văn lớn vừa ra đi. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 1950 – 2021 Khi viết những dòng này, tôi đã thức tỉnh trong vài người quen những cảm xúc mà thời gian đã xóa nhòa, và tôi đã xâm phạm đến cõi yên tĩnh nấm mồ của chính cha tôi. Tôi buộc lòng làm vậy, và xin người đọc nể nang những tình cảm đã thúc đẩy tôi viết mà lượng thứ cho ngòi bút kém cỏi của tôi. Tình cảm này, tôi xin nói trước, là sự bênh vực của tôi đối với cha mình. Cha tôi tên là Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải, tôi không tường mặt, chỉ nghe nói là một người đàn bà cay nghiệt vô cùng. Sống với dì ghẻ, cha tôi trong tuổi niên thiếu đã phải chịu đựng nhiều điều cay đắng. Năm mười hai tuổi, cha tôi trốn nhà ra đi. Ông vào bộ đội, ít khi về nhà. Khoảng năm… cha tôi về làng lấy vợ. Chắc chắn cuộc hôn nhân này không do tình yêu. Mười ngày nghỉ phép bề bộn công việc. Tình yêu đòi hỏi điều kiện, trong đó thời gian cũng cần. Khi lớn lên, tôi chăng biết gì về cha mình cả. Tôi chắc mẹ tôi hiểu về cha tôi cũng ít. Cả đời cha tôi gắn với súng đạn, chiến tranh. Tôi đi làm, lấy vợ, sinh con. Mẹ tôi già đi. Cha tôi vẫn đi biền biệt. Thỉnh thoảng cha tôi cũng ghé về nhà, nhưng những lần về đều ngắn. Cả những bức thư cha tôi gửi về cũng ngắn, dầu rằng dưới những dòng chữ, tôi biết ở đấy ẩn chứa nhiều tình thương cùng với âu lo. Tôi là con một, tôi đã chịu ơn cha tôi về đủ mọi mặt. Tôi được học hành, được du ngoại. Cả những cơ sở vật chất gia đình cũng do cha tôi lo liệu. Ngôi nhà tôi ở ven nội, xây dựng trước khi cha tôi về hưu tám năm. Đấy là một biệt thự đẹp nhưng khá bất tiện, tôi đã xây cất dựa theo thiết kế của một chuyên gia kiến trúc trứ danh, bạn của cha tôi, ông này đại tá, chỉ thạo việc xây doanh trại. Năm bảy mươi tuổi, cha tôi về hưu với hàm thiếu tướng. Mặc dầu biết trước, tôi vẫn ngỡ ngàng khi cha tôi về. Mẹ tôi đã lẫn bà hơn cha tôi sáu tuổi, vì vậy thực ra ở nhà chỉ có mình tôi có những tình cảm đặc biệt với sự kiện này. Mấy đứa con tôi còn bé. Vợ tôi biết ít về ông, vì hai chúng tôi lấy nhau khi mà cha tôi đang bặt tin tức. Bấy giờ đang có chiến tranh. Tuy thế, ở trong gia đình, cha tôi bao giờ cũng là hình ảnh của niềm vinh dự, tự hào. Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi cha tôi cũng được mọi người ngưỡng vọng. Cha tôi về nhà, đồ đạc đơn sơ. Cha tôi khỏe. Ông bảo “Việc lớn trong đời cha làm xong rồi!” Tôi bảo “Vâng”. Cha tôi cười. Tâm trạng xúc động lây sang cả nhà, mọi người chuếnh choáng đến nửa tháng trời, sinh hoạt tùy tiện, có hôm mười hai giờ đêm mới ăn cơm chiều. Khách khứa đến chơi nườm nượp. Vợ tôi bảo “Không để thế được”. Tôi cho mổ lợn, đi mời họ hàng làng nước đến để chia vui. Làng tôi tuy gần thành phố nhưng mà tập tục nông thôn còn giữ. Đúng một tháng sau, tôi mới có dịp ngồi với cha tôi bàn chuyện gia đình. II Trước khi kể tiếp, xin nói về gia đình tôi. Tôi ba mươi bảy tuổi, là kỹ sư, làm việc ở Viện Vật lý. Thủy, vợ tôi, là bác sĩ, làm việc ở bệnh viện sản. Chúng tôi có hai con gái, đứa mười bốn, đứa mười hai. Mẹ tôi lẫn lộn, suốt ngày chỉ ngồi một chỗ. Ngoài những người trên, gia đình tôi còn có ông Cơ và cô con gái gàn dở của ông. Ông Cơ sáu mươi tuổi, quê Thanh Hóa. Vợ tôi gặp cha con ông khi nhà của họ bị cháy, cơ nghiệp mất sạch. Thấy cha con ông tốt bụng, đáng thương, vợ tôi sắp xếp cho họ ở với chúng tôi. Cha con ông ở dưới nhà ngang, sinh hoạt riêng rẽ nhưng mọi chế độ thì do vợ tôi chu cấp. Không có hộ khẩu, họ không có những tiêu chuẩn lương thực, thực phẩm như những người dân khác trong thành phố. Ông Cơ hiền lành, chịu khó. Thường ông đảm nhiệm việc chăm vườn tược, lợn gà và đàn chó giống. Nhà tôi nuôi chó béc-giê. Tôi cũng không ngờ việc kinh doanh chó lại thu lợi lớn. Khoản thu này trội nhất trong nhà. Cô Lài mặc dầu gàn dở nhưng lại xốc vác và nội trợ giỏi. Vợ tôi dạy cô cách thức nấu bóng, nấu nấm, nấu gà hầm. Cô bảo “Cháu chẳng ăn thế bao giờ”. Cô không ăn thật. Cả hai vợ chồng và hai con tôi không phải lo toan công việc gia đình. Từ ăn uống, giặt giũ, tất cả giao cho hai người giúp việc. Vợ tôi cầm chịch các khoản chi tiêu. Tôi bận nhiều việc, hiện đang vùi đầu vào công trình ứng dụng điện phân. Cũng cần nói thêm quan hệ tình cảm của vợ chồng tôi êm thấm. Thủy có học thức, sống theo lối mới. Chúng tôi suy nghĩ độc lập, nhìn nhận vấn đề xã hội tương đối giản dị. Thủy am tường các việc lo liệu kinh tế cũng như dạy dỗ con cái. Còn tôi, hình như tôi khá cổ hủ, đầy bất trắc và thô vụng. III Tôi quay lại đoạn kể cha con tôi bàn việc gia đình. Cha tôi bảo “Nghỉ rồi, cha làm gì?” Tôi bảo “Viết hồi ký”. Cha tôi bảo “Không!”. Vợ tôi bảo “Cha nuôi vẹt xem”. Trên phố dạo này nhiều người nuôi chim hoạ mi, chim vẹt. Cha tôi bảo “Kiếm tiền à?” Vợ tôi không trả lời. Cha tôi bảo “Để xem đã!” Cha tôi cho mỗi người trong nhà bốn mét vải lính. Ông Cơ và cả cô Lài cũng thế. Tôi cười “Cha bình quân! ” Cha tôi bảo “Đấy là lẽ sống”. Vợ tôi bảo “Cả nhà đồng phục thì thành doanh trại”. Mọi người cười ồ. Cha tôi muốn ở một phòng dưới dãy nhà ngang giống như mẹ tôi. Vợ tôi không chịu. Cha tôi buồn. Việc để mẹ tôi ăn riêng, ở riêng làm ông bứt rứt. Vợ tôi bảo “Tại mẹ lẫn”. Cha tôi đăm chiêu. Tôi cũng không hiểu sao hai đứa con gái của tôi ít gần ông nội. Tôi cho chúng học ngoại ngữ, học nhạc. Chúng lúc nào cũng bận. Cha tôi bảo “Các cháu có sách gì mang cho ông đọc”. Cái Mi cười. Còn cái Vi bảo “Ông thích đọc gì?” Cha tôi bảo “Cái gì dễ đọc”. Hai đứa bảo “Thế thì không có”. Tôi đặt báo hàng ngày cho ông. Cha tôi không thích văn học. Văn chương nghệ thuật bây giờ đọc rất khó vào. Một hôm tôi đi làm về, cha tôi đứng ở dãy nhà vợ tôi nuôi chó và gà công nghiệp. Trông ông không vui. Tôi hỏi “Có chuyện gì thế?” Ông bảo “ông Cơ và cô Lài vất vả quá. Họ làm không hết việc, cha muốn giúp họ được không?” Tôi bảo “Để con hỏi Thủy”. Vợ tôi bảo “Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng. Cha là chỉ huy. Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ”. Cha tôi không nói năng gì. Cha tôi nghỉ hưu nhưng khách khứa nhiều. Điều đó làm tôi ngạc nhiên, thậm chí thích thú. Vợ tôi bảo “Đừng mừng… họ chỉ nhờ vả. Cha ạ, cha đừng làm gì quá sức”. Cha tôi cười “Chẳng có gì đâu… cha chỉ viết thư. Thí dụ “Thân gửi N. tư lệnh quân khu… Tôi viết thư này cho cậu… Hơn năm mươi năm, đây là lần đầu tôi ăn tết mồng ba tháng ba dưới mái nhà mình. Hồi ở chiến trường, hai đứa chúng mình đã từng mơ ước v. v… Cậu nhớ cái xóm ven đường, cô Huệ đã làm bánh trôi bằng bột mì mốc. Bột mì bê bết trên lưng Nhân đây M. là người tôi quen, muốn được công tác dưới quyền của cậ u “. Cha viết như thế được không?”. Tôi bảo “Được”. Vợ tôi bảo “Không được!”. Cha tôi gãi cằm “Người ta nhờ mình”. Cha tôi thường bỏ thư viết vào phong bì đựng công văn bằng giấy cứng, cỡ 20×30, trên có in chữ Bộ Quốc phòng, rồi đưa cho người nhờ vả mang đi. Sau ba tháng, hết sạch loại phong bì ấy. Ông làm phong bì bằng giấy bìa học sinh cũng to bằng cỡ 20×30. Một năm sau, ông cho thư vào thứ phong bì bình thường vẫn bán ở quầy bưu điện, giá năm đồng một chục cái. Tháng bảy năm ấy, tức là ba tháng sau ngày cha tôi về nghỉ, chú họ tôi, ông Bổng, cưới vợ cho con. IV Ông Bổng với cha tôi là anh em cùng cha khác mẹ. Thằng Tuân con trai ông làm nghề đánh xe bò. Hai cha con đều ghê gớm, to như hộ pháp, ăn nói văng mạng. Thằng Tuân lấy vợ lần này là lần thứ hai. Vợ trước bị đánh đau quá, bỏ đi. Ra tòa, nó khai là vợ theo trai, tòa phải chịu. Cô vợ lần này tên là Kim Chi, làm nghề nuôi dạy trẻ, con nhà có học hẳn hoi, xí xớn thế nào nghe nói có thai với nó. Kim Chi là cô gái đẹp, làm vợ thằng Tuân đúng là “hoa nhài cắm bãi cứt trâu”. Thâm tâm chúng tôi không ưa cha con ông Bổng, khốn nỗi “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, giỗ tết vẫn phải đi lại, nhưng mà ngày thường cũng nhạt. Ông Bổng hay nói “Quân trí thức khốn nạn! Rẻ dân lao động! Nể bố nó, không tôi cạch cửa!”. Nói thế thôi, ông Bổng vẫn sang vay tiền. Vợ tôi khe khắt, bao giờ cũng bắt ông phải ký cược. Ông Bổng rất ức, ông nói “Mình là chú nó, trót vay nợ nó mà nó cư xử hệt như địa chủ”. Nhiều món nợ ông cứ lờ đi không trả. Cưới vợ cho con, ông Bổng nói với cha tôi “Anh phải đứng ra chủ hôn, bố cháu Kim Chi vụ phó, anh là tướng, thế là “môn đăng hộ đối”. Sau này các cháu nhờ phúc của ông, như tôi là thằng phu xe, báu gì”. Cha tôi bằng lòng. Đám cưới ngoại ô lố lăng và khá dung tục. Ba ô tô. Thuốc lá đầu lọc nhưng gần cuối tiệc hết sạch, phải thay bằng thuốc lá cuốn. Năm mươi mâm cỗ nhưng ế mười hai. Chàng rể mặc comple đen, cravat đỏ. Tôi phải cho mượn cái cravat đẹp nhất trong tủ áo. Nói là mượn, chắc gì đòi được. Phù rể là sáu thanh niên ăn mặc hệt nhau, đều quần bò, râu ria rất hãi. Đầu tiệc là dàn nhạc sống chơi bài Ave Maria. Một anh cùng hợp tác xã xe bò thằng Tuân nhảy lên đơn ca một bài khủng khiếp Ừ… ê… cái con gà quay Ta đi lang thang khắp miền giang hồ Tìm nơi nào có tiền Tiền ơi, mau vào túi ta Ừ… ê… cái con gà rù… Sau đó đến lượt cha tôi. Ông luống cuống, khổ sở. Bài văn chuẩn bị công phu hóa thừa. Kèn clarinet đệm rất bậy bạ sau dấu chấm câu. Pháo ầm ĩ. Trẻ con bình luận nhảm nhí. Cha tôi nhảy cóc từng đoạn. Ông cầm tờ giấy mà run bắn người. Một sự ô hợp láo nháo thản nhiên rất đời, thô thiển, thậm chí còn ô trọc nữa làm ông kinh hãi, đau đớn. Ông vụ phó thông gia cũng đâm hoảng hốt, luống cuống, làm đổ cả rượu xuống váy cô dâu. Chẳng nghe thấy gì. Dàn nhạc sống át đi bằng những ca khúc vui vẻ quen thuộc của các ban nhạc Beatles và Abba. Sau đó, rắc rối đầu tiên đến với cha tôi là việc Kim Chi sinh cháu chỉ sau hôm cưới chục ngày. Gia đình ông Bổng bê bối. Ông say rượu, tống cổ cô con dâu ra cửa. Thằng Tuân cầm dao chém bố, may trượt. Vô phương, cha tôi phải đón cháu dâu về nhà. Gia đình tôi thêm hai khẩu. Vợ tôi không nói năng gì, cô Lài thêm một trách nhiệm. Được cái cô Lài vô tâm, tính lại yêu trẻ. V Một tối, tôi đang đọc Sputnhich, cha tôi lặng lẽ đi vào. Ông bảo “Cha muốn nói chuyện với con”. Tôi pha cà phê, cha tôi không uống. Ông hỏi “Con có để ý công việc của Thủy không con? Cha cứ rờn rợn”. Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai. Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn. Thực ra điều này tôi biết nhưng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì. Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó có các mẩu thai nhi bé xíu. Tôi lặng đi. Cha tôi khóc. Ông cầm phích đá ném vào đàn chó béc giê “Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này”. Đàn chó sủa vang. Ông bỏ lên nhà. Vợ tôi di vào nói với ông Cơ “Sao không cho vào máy xát? Sao để ông biết?!” ông Cơ bảo “Cháu quên, cháu xin lỗi mợ”. Tháng mười hai, vợ tôi gọi người bán sạch đàn chó béc giê. Vợ tôi bảo “Anh thôi hút thuốc Galăng đi. Năm nay nhà mình hụt thu hai mươi bảy nghìn, chi lạm mười tám nghìn, cộng là bốn mươi lăm nghìn”. Kim Chi hết thời gian nghỉ, đi làm. Nó bảo “Cám ơn anh chị, em đưa con về nhà đây”. Tôi hỏi “Về đâu?” Thằng Tuân đã bị bắt giam vì tội côn đồ. Kim Chi đưa con về nhà của bố mẹ đẻ. Cha tôi đưa về tận nơi bằng xe taxi thuê riêng. Cha tôi ở chơi với ông vụ phó bố của Kim Chi một ngày. Ông này vừa đi công tác ở ấn Độ về, ông biếu cha tôi một mảnh lụa hoa và nửa lạng cao tổng hợp. Cha tôi cho cô Lài mảnh lụa hoa, cho ông Cơ nửa lạng cao. VI Trước tết Nguyên đán, ông Cơ nói với hai vợ chồng tôi “Cháu xin cậu mợ một việc”. Vợ tôi hỏi “Việc gì?” ông Cơ nói vòng vèo, chẳng đâu vào đâu. Đại để ông muốn về thăm quê. ở với chúng tôi sáu năm, cũng có dành dụm, ông Cơ muốn về bốc mộ bà vợ. Để lâu ngày chắc ván đã sụt. “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Ở thành phố, cũng muốn về thăm họ hàng làng xóm cho nó mát mặt. Bây giờ đã vậy, sau này “cáo chết ba năm quay đầu về núi”. Vợ tôi cắt lời “Thế bao giờ đi?” ông Cơ gãi đầu “Đi mười ngày, về Hà Nội trước hăm ba tết”. Vợ tôi tính “Được. Anh Thuần này Thuần là tên tôi, anh có nghỉ phép được không?” Tôi bảo “Được”. Ông Cơ bảo “Chúng cháu muốn mời ông về quê chơi. Như đi du lịch”. Vợ tôi bảo “Tôi không thích. Thế ông bảo sao?” ông Cơ bảo “Ông đồng ý rồi. Không có ông, cháu cũng chẳng nhớ đến việc cải mộ nhà cháu”. Vợ tôi hỏi “Thế hai cha con có bao nhiêu tiền?” ông Cơ bảo “Cháu có ba nghìn, ông cho hai nghìn là năm”. Vợ tôi bảo “Được, đừng lấy hai nghìn của ông, tôi bù cho hai nghìn ấy, lại cho thêm năm nghìn. Thế là hai cha con có chục nghìn. Đi được”. Trước hôm đi, vợ tôi làm cơm. Cả nhà ngồi ăn, có cả ông Cơ, cô Lài. Cô Lài vui lắm, mặc bộ quần áo mới may bằng vải cha tôi cho hôm về. Cái Mi và Cái Vi trêu “Chị Lài xinh nhất”. Cô Lài cười thỏn thẻn “Chả phải. Mợ mới xinh nhất”. Vợ tôi bảo “Em đi chú ý đỡ ông những khi tàu xe”. Cha tôi bảo “Hay thôi không đi?” ông Cơ giãy nảy “Chết, cháu đã điện rồi Mang tiếng chết”. Cha tôi thở dài “Tôi có tiếng gì mà mang?”. VII Cha tôi đi Thanh Hóa cùng ông Cơ và cô Lài vào sáng chủ nhật. Tối thứ hai, tôi đang xem tivi thì nghe tiếng “huỵch”, vội chạy ra ngoài thấy mẹ tôi ngã gục góc vườn. Mẹ tôi lẫn bốn năm nay, cho ăn biết ăn, cho uống biết uống, phải giục đi ngoài. Mọi hôm có cô Lài săn sóc không sao. Hôm nay, tôi sơ ý, cho ăn mà không giục đi ngoài. Tôi đỡ mẹ tôi vào, bà cụ cứ gục mặt xuống. Không thấy có vết đau. Nửa đêm tôi dậy, thấy mẹ tôi lạnh toát, mắt dại đi. Tôi sợ, gọi vợ tôi. Thủy bảo “Mẹ già rồi”. Hôm sau mẹ tôi không ăn, hôm sau nữa, cũng không ăn, không chủ động đi ngoài. Tôi giặt giũ, thay chiếu. Có ngày mười hai lần. Tôi biết Thủy và hai con tôi ưa sạch sẽ nên tôi thay giặt luôn, không giũ ở nhà mà mang ra tận kênh đào. Thuốc đổ vào cứ trớ ra. Hôm thứ bảy, mẹ tôi bỗng ngồi dậy được. Đi lững thững một mình ra vườn. Ăn được cơm. Tôi bảo “Mừng rồi”. Vợ tôi không nói năng gì, chiều hôm ấy thấy mang về chục mét vải trắng, lại gọi cả thợ mộc. Tôi hỏi “Chuẩn bị à?” Vợ tôi bảo “Không”. Hai hôm sau, mẹ tôi nằm liệt, lại bỏ ăn, lại đi ngoài như cũ. Người dốc nhanh, thải ra thứ nước nâu sền sệt rất khắm. Tôi đổ sâm. Vợ tôi bảo “Đừng đổ sâm, khổ cho mẹ”. Tôi òa khóc. Rất lâu tôi mới òa khóc như thế. Vợ tôi nín lặng, rồi lại bảo “Tùy anh”. Ông Bổng sang thăm. Ông nói “Bà ấy cứ xoay ngang, xoay dọc trên giường như thế này là gay go lắm đấy!”. Lại hỏi “Chị ơi, chị có nhận ra em không?”. Mẹ tôi bảo “Có”. Lại hỏi “Thế em là ai?” Mẹ tôi bảo “Là người”. Ông Bổng khóc òa lên “Thế là chị thương em nhất. Cả làng cả họ gọi em là đồ chó. Vợ em gọi em là đồ đểu. Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn. Chỉ có chị gọi em là người”. Lần đầu tiên, cái ông chú đánh xe bò, lỗ mãng, táo tợn, làm đủ mọi điều phi nhân bất nghĩa hóa thành đứa trẻ ngay trước mắt tôi. VIII Cha tôi về đến nhà thì sáu tiếng sau mẹ tôi mất. Ông Cơ và cô Lài nói “Tại chúng cháu. Chúng cháu ở nhà thì bà không mất”. Vợ tôi bảo “Nói nhảm”. Cô Lài khóc “Bà ơi, bà đánh lừa con bà đi! Sao bà không cho con đi hầu bà?”. Ông Bổng cười “Mày muốn đi hầu bà thì đi, tao cho đóng ván”. Khi liệm mẹ tôi, cha tôi khóc. Ông hỏi ông Bổng “Sao người bà ấy rút nhanh thế? Người già ai cũng chết khổ như thế này à?”, ông Bổng bảo “Anh lẩm cẩm. Hôm nào nước mình cũng có hàng nghìn người chết khổ nhục vật vã đau đớn. Mỗi lính tráng các anh, “đòm” phát là sướng”. Tôi cho bắc rạp, bảo thợ mộc đóng quan tài. Ông Cơ cứ loay hoay bên đống ván vợ tôi cho xẻ hôm trước. Ông thợ mộc quát “Sợ chúng ông ăn cắp gỗ à?”, ông Bổng hỏi “Ván mấy phân?” Tôi bảo “Bốn phân”. Ông Bổng bảo “Mất mẹ bộ xa lông Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ? Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván”. Cha tôi ngồi âm thầm, trông rất đau đớn. Ông Bổng bảo “Chị Thủy luộc cho tôi con gà, nấu hộ nồi xôi”. Vợ tôi hỏi “Mấy cân gạo hả chú?”. Ông Bổng bảo “Mẹ mày, sao hôm nay cứ ngọt xớt thế? Ba cân”! Vợ tôi bảo tôi “Họ hàng nhà anh kinh bỏ mẹ”. Ông Bổng hỏi tôi “Nhà này ai chủ trì kinh tế?”. Tôi bảo “Vợ cháu”. Ông Bổng bảo “Đấy là ngày thường. Tao hỏi đám ma này thì ai chủ trì kinh tế”. Tôi bảo “Vợ cháu”. Ông Bổng bảo “Không được con ơi, khác máu tanh lòng. Tao bảo bố mày nhé”. Tôi bảo “Ông để con”. Ông Bổng bảo “Đưa tao bốn nghìn, mày định làm bao nhiêu mâm?”. Tôi bảo “Mười mâm”. Ông Bổng bảo “Không đủ cho đô tùy rửa ruột. Mày bàn với vợ mày đi. Bốn mươi mâm”. Tôi đưa cho ông bốn nghìn rồi vào nhà. Vợ tôi bảo “Em nghe hết rồi, em tính ba chục mâm, tám trăm đồng một mâm, ba tám hai tư. Hai tư nghìn, phụ phí sáu nghìn. Việc mua bán em lo. Cỗ giao cho cô Lài. Đừng nghe ông Bổng, lão ấy đểu lắm”. Tôi bảo “Ông Bổng cầm bốn nghìn rồi”. Vợ tôi bảo “Buồn anh lắm”. Tôi bảo “Anh đòi lại nhé”. Vợ tôi bảo “Thôi, coi như trả công. Lão ấy tốt nhưng nghèo”. Phường bát âm đến bốn người. Cha tôi ra tiếp. Nhập quan lúc bốn giờ chiều. Ông Bổng cạy miệng mẹ tôi cho vào chín đồng vừa tiền chinh Khải Định, vừa tiền một hào nhôm. Ông bảo “Để đi đò”. Lại cho vào cỗ bài tổ tôm, có lẫn cả mấy quân tam cúc. Ông bảo “Không sao, ngày xưa bà ấy vẫn chơi tam cúc”. Đêm ấy, tôi thức canh quan tài mẹ tôi, ngẫm nghĩ lan man đủ điều. Cái chết sẽ đến với mỗi chúng ta, chẳng trừ ai cả. Ngoài sân, ông Bổng với mấy bác đô tùy ngồi đánh tam cúc ăn tiền. Khi nào kết tốt đen, ông Bổng lại chạy vào vái quan tài mẹ tôi “Lạy chị, chị phù hộ cho em để em vét thật nhẵn túi chúng nó”. Cái Mi, cái Vi cũng thức với tôi. Cái Mi hỏi “Sao chết đi qua đò cũng phải trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà?”. Cái Vi bảo “Đấy có phải ngậm miệng ăn tiền không bố”. Tôi khóc “Các con không hiểu đâu. Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín”. Cái Vi bảo “Con hiểu đấy. Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền. Chết cũng cần”. Tôi thấy cô đơn quá. Các con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa. IX Từ nhà tôi ra nghĩa địa đi tắt chỉ năm trăm mét nhưng đi đường chính qua cổng làng phải hai cây số. Đường bé, không đẩy xe đòn được mà phải khiêng vai. Đô tùy thay nhau đến ba chục người, có nhiều người vợ chồng tôi không biết tên gì. Họ khênh quan tài hồn nhiên như việc bình thường vẫn làm, như khênh cột nhà. Vừa đi vừa nhai trầu, hút thuốc, tán chuyện. Khi nghỉ, đứng ngồi ngổn ngang ngay bên quan tài. Có người nằm lăn ra nói “Mát thật, không bận cứ ngủ ở đây đến tối”. Ông Bổng bảo “Các bố ơi, đi đi còn về nhắm”. Thế là đi. Tôi chống gậy giật lùi trước quan tài theo tục lệ, “cha đưa mẹ đón”. Ông Bổng bảo “Bao giờ tôi chết, đô tùy của tôi toàn dân cờ bạc, cỗ không thịt lợn mà thịt chó”. Cha tôi bảo “Chú ơi, lúc này mà chú đùa à?”. Ông Bổng nín bặt, lại khóc “Chị ơi, chị đánh lừa em chị đi… Chị bỏ em chị đi… “. Tôi nghĩ “Sao lại đánh lừa? Chẳng lẽ người chết đều đã đánh lừa người sống cả sao? Bãi tha ma này toàn quân lừa lọc?”. Chôn cất xong, mọi người về nhà. Bày ra một lúc hai mươi tám mâm. Nhìn mâm cỗ, tôi thật kính trọng cô Lài. Mâm nào cũng gọi “Lài đâu?” Cô Lài miệng dạ tíu tít, chạy ra bê rượu, bê thịt. Đến tối, cô Lài tắm giặt, mặc quần áo mới ra hương án khóc “Bà ơi, cháu xin lỗi bà, cháu không đưa bà ra đồng… Hôm trước bà thèm canh cua, cháu ngại làm, bà chẳng được ăn… Bây giờ đi chợ, cháu biết mua quà cho ai?… “. Tôi thấy đắng ngắt. Tôi nhớ đã chục năm nay tôi chưa lần nào mua được cho mẹ chiếc bánh hay là gói kẹo. Cô Lài lại khóc “Cháu ở nhà thì bà có chết không bà?”. Vợ tôi bảo “Đừng khóc”. Tôi cáu “Cứ để cho cô ấy khóc, đám ma không có tiếng khóc buồn lắm. Nhà mình có ai biết khóc bà cụ thế đâu?”. Vợ tôi bảo “Ba mươi hai mâm. Anh phục em tính sát không?”. Tôi bảo “Sát”. Ông Bổng bảo “Tôi đi xem giờ. Bà cụ được một cái nhập mộ, hai cái trùng tang, một cái thiên di. Có yểm bùa không?”. Cha tôi bảo “Bùa con khỉ. Trong đời mình, tôi chôn ba nghìn người chẳng có người nào thế này”. Ông Bổng bảo “Thế là sướng, “đòm” phát là xong”. Ông giơ một ngón tay trỏ làm hiệu bóp cò. X Tết năm đó, nhà tôi không mua hoa đào, không gói bánh chưng. Chiều mồng hai, đơn vị cũ của cha tôi cho người về viếng mẹ tôi. Biếu năm trăm đồng. Ông Chưởng, phó của cha tôi bây giờ lên tướng, ra mộ thắp hương. Anh Thanh đại úy cần vụ đi theo rút súng bắn ba phát lên trời. Sau này, trẻ con trong làng kháo bộ đội bắn hai mốt phát đại bác viếng bà Thuấn. Ông Chưởng hỏi cha tôi “Anh muốn về thăm đơn vị dối già không? Tháng năm tập trận. Đơn vị cho xe về đón”. Cha tôi bảo “Được”. Ông Chưởng đi thăm cơ ngơi nhà tôi, có ông Cơ hướng dẫn. Ông Chưởng bảo cha tôi “Cơ ngơi của anh ác thật. Vườn cây, ao cá, chuồng lợn, chuồng gà, biệt thự. Thế là vững tâm”. Cha tôi bảo “Con tôi làm đấy”. Tôi bảo “Đấy là vợ cháu”. Vợ tôi bảo “Cô Lài chứ! ” Cô Lài cười thỏn thẻn, dạo này dầu cứ gật gật liên hồi như bị động kinh “Chả phải”. Cha tôi đùa “Thế thì do mô hình Sáng mồng ba, Kim Chi đi xích lô bế con về thăm. Vợ tôi mừng tuổi một nghìn. Cha tôi hỏi “Thằng Tuân có thư từ gì không?” Kim Chi bảo “Không”. Cha tôi bảo “Lỗi ở bác đấy. Tao không biết mày có chửa”. Vợ tôi bảo “Chuyện ấy là thường. Bây giờ làm gì còn có trinh nữ. Con làm ở bệnh viện sản, con biết”. Kim Chi ngượng. Tôi bảo “Đừng nói thế, nhưng mà làm trinh nữ thì mệt thật”. Kim Chi khóc “Anh ơi, đàn bà chúng em nhục lắm. Đẻ con gái ra em cứ nát ruột nát gan”. Vợ tôi bảo “Tôi còn hai con gái cơ”. Tôi bảo “Thế các người tưởng làm đàn ông thì không nhục à?” Cha tôi bảo “Đàn ông thằng nào có tâm thì nhục… Tâm càng lớn, càng nhục”. Vợ tôi bảo “Nhà mình nói năng như điên khùng cả. Thôi đi ăn. Hôm nay có cô Kim Chi, tôi đãi mỗi người một con gà hầm tâm sen. Tâm đấy. Ăn là trên hết”. XI Gần nhà tôi ở có cậu Khổng, trẻ con gọi là Khổng Tử. Khổng làm ở xí nghiệp nước mắm nhưng lại thích thơ, làm thơ gửi báo Văn nghệ. Khổng hay sang chơi. Khổng bảo “Thơ siêu nhất”. Cậu đọc cho tôi nghe Loócca, Uýtxman v. v… Tôi không thích Khổng, ngờ ngợ cậu ta sang chơi vì một cái gì phiêu lưu còn hơn cả thơ ca nữa. Một bận, thấy trong giường của vợ tôi có một tập thơ chép tay. Vợ tôi bảo “Thơ của cậu Khổng, anh có đọc không?” Tôi lắc đầu. Vợ tôi bảo “Anh già rồi”. Bất giác tôi thoáng rùng mình. Một hôm bận trực cơ quan nên tôi về muộn. Cha tôi đón cổng, ông bảo “Thằng Khổng sang chơi từ chập tối. Nó với vợ mày cứ rúc rích với nhau, bây giờ chưa về, chướng quá”. Tôi bảo “Cha đi ngủ đi, để ý làm gì?” Cha tôi lắc đầu, bỏ đi lên gác. Tôi dắt xe máy ra đường, phóng lang thang khắp phố cho kỳ hết xăng. Tôi dắt xe đến ngồi ở một góc vườn hoa như một tên du thủ du thực. Có một cô mặt đánh phấn đi ngang qua hỏi “Ông anh ơi, có đi chơi không?” Tôi lắc đầu. Khổng có ý tránh mặt tôi. Ông Cơ ghét lắm, một hôm bảo tôi “Cháu đánh nó nhé?” Suýt tôi gật đầu. Lại nghĩ “Thôi”. Tôi vào thư viện mượn thử ít sách. Đọc Loócca, Uýtxman… tôi cứ mơ hồ thấy những nghệ sĩ trác tuyệt là những con người cô đơn khủng khiếp. Bỗng thấy thằng Khổng có lý. Chỉ tức nó đểu. Sao nó không đưa thơ nó cho người khác xem mà lại đưa cho vợ tôi? Cha tôi bảo “Anh nhu nhược. Duyên do là anh đếch sống được một mình”. Tôi bảo “Không phải, cuộc đời nhiều trò dùa lắm”. Cha tôi bảo “Anh cho là trò đùa à?” Tôi bảo “Không phải trò đùa, nhưng cũng không phải nghiêm trọng”. Cha tôi bảo “Sao tôi cứ như lạc loài?”. Cơ quan định cử tôi đi công tác phía Nam. Tôi bảo vợ tôi “Anh đi nhé?” Vợ tôi bảo “Đừng đi. Mai anh sửa cửa nhà tắm, cái cửa hỏng rồi. Hôm nọ cái Mi đang tắm, thằng Khổng đi qua định giở trò đểu làm nó hết hồn. Thằng khốn nạn ấy em cấm cửa rồi”. Vợ tôi òa khóc “Em thật có lỗi với anh, với con”. Tôi khó chịu quay đi. Nếu có cái Vi bây giờ thì nó sẽ hỏi tôi rằng “Bố ơi, đấy có phải nước mắt cá sấu không?”. XII Tháng Năm, đơn vị cũ cho xe về đón cha tôi. Anh Thanh đại úy cầm thư của ông Chưởng về. Cha tôi cầm thư run run. Thư viết “… Chúng tôi cần anh, mong anh… nhưng anh đi được thì đi, không ép”. Tôi nghĩ cha tôi không nên đi nữa nhưng nói ra bất tiện. Cha tôi già sụp hẳn đi từ khi về hưu. Hôm nay cầm thư, thấy ông nhanh nhẹn và trẻ trung hẳn. Tôi cũng vui lây. Vợ tôi chuẩn bị đồ đạc cho vào cái sắc du lịch. Cha tôi không nghe, ông bảo “Cho vào ba lô”. Cha tôi đi chào làng nước một lượt, ra cả ngoài mộ mẹ tôi, lại bảo anh Thanh bắn ba phát súng lên trời. Buổi tối cha tôi gọi ông Cơ đến cho hai nghìn, bảo khắc một cái bia đá gửi về Thanh Hóa đánh dấu mộ vợ. Cha tôi lại gọi cô Lài đến bảo “Cháu lấy chồng đi”. Cô Lài òa khóc “Cháu xấu xí lắm, chẳng ai lấy. Lại cả tin nữa”. Cha tôi nghẹn ngào “Con ơi, con không hiểu rằng cả tin chính là sức mạnh để sống hả con?”. Tôi cũng không ngờ những điều như thế lại là diềm báo chuyến này cha tôi ra đi không về. Trước khi lên xe, cha tôi lấy trong ba lô ra quyển vở học sinh. Ông đưa cho tôi. Ông bảo “Trong này cha có ghi chép ít điều, con đọc thử xem”. Cái Mi, cái Vi chào ông. Cái Mi hỏi “Ông đi ra trận hả ông?” Cha tôi bảo “ừ”. Cái Vi hỏi “Đường ra trận mùa này đẹp lắm có phải không ông?” Cha tôi chửi “Mẹ mày! Láo!”. XIII Cha tôi đi được vài ngày thì ở nhà xảy ra chuyện cười nôn ruột. Số là ông Cơ cùng với ông Bổng vớt bùn dưới ao vợ tôi trả ông Bổng hai trăm đồng một ngày công, cơm nuôi, bỗng thấy một cái đít chum nổi lên. Hai ông hì hục đào, lại thấy một đít chum nữa, ông Bổng đoán chắc các cụ ngày xưa chôn của. Hai ông báo với vợ tôi. Thủy đến xem, cũng lội xuống đào. Rồi cả cô Lài, cả cái Mi, cái Vi. Cả nhà bê bết bùn đất. Vợ tôi bắt phải ngăn ao, lại đi thuê máy bơm Côle về tát nước. Không khí thật nghiêm trang. Ông Bổng thích lắm “Công tao thấy trước, cứ phải chia cho tao rnột chum”. Hì hục một ngày đào được hai cái chum sứt trong chẳng có gì. Ông Bổng bảo “Chắc còn nữa”. Lại đào. Được thêm một cái chum nữa, cũng vỡ. Cả nhà mệt lả, bụng đói cồn cào. Vợ tôi sai mua bánh mì về ăn lấy sức đào tiếp. Đào gần chục mét thì vớ được cái lọ sành. Cả nhà mừng rỡ, ai cũng đoán vàng. Mở ra trong thấy toàn một chuỗi “Bảo Đại thông báo” bằng đồng đã han rỉ cả. Lại thấy một cái mề đay mủn nát. Ông Bổng bảo “Thôi chết, tao nhớ ra rồi. Ngày xưa tạo với trùm Nhân ăn trộm ở nhà Hàn Tín, bị đuổi, trùm Nhân vứt cái lọ này xuống ao”. Cả nhà được một mẻ cười nôn ruột. Trùm Nhân là tên ăn trộm khét tiếng ở vùng ngoại ô. Hàn Tín trước kia là lính thuộc địa cho Tây, tham gia phong trào “Rồng Nam phun bạc, đánh đuổi Đức tặc”. Cả hai đã chết mục xác từ thuở nảo thuở nào. Ông Bổng bảo “Không sao, bây giờ cả làng này chết tao cũng đủ tiền đi đò nhét vào miệng họ”. Sáng hôm sau, ngủ dậy thì tôi nghe thấy có tiếng gọi cổng. Tôi ra thấy Khổng đứng ngoài. Tôi nghĩ “Mẹ khỉ, cái thằng đểu này là điềm gở nhất của số phận mình”. Khổng bảo “Anh Thuần ơi, anh có điện. Ông cụ mất rồi!”. XIV Điện của ông Chưởng “Thiếu tướng Nguyễn Thuấn, hy sinh khi làm nhiệm vụ hồi… giờ… ngày mai táng tại nghĩa trang liệt sĩ hồi… giờ… ngày” Tôi lặng người. Vợ tôi xếp đặt mọi việc rất nhanh. Tôi ra thuê xe, về nhà đã thấy gọn đâu vào đấy Vợ tôi bảo “Khóa cửa nhà trên. Ông Cơ ở lại”. Xe đi Cao Bằng theo đường số Một. Đến nơi thì lễ an táng cha tôi cử hành đã được hai tiếng đồng hồ. Ông Chưởng bảo “Chúng tôi có lỗi đối với gia đình”. Tôi bảo “Không phải thế. Đời người có mệnh”. Ông Chưởng bảo “Cha anh là người đáng trọng”. Tôi hỏi “Theo nghi lễ quân đội hả chú”. Ông Chưởng bảo “Cụ ra trận địa, đòi lên chốt”. Tôi bảo “Cháu hiểu rồi, chú đừng kể nữa”. Tôi khóc, chưa bao giờ tôi khóc như thế. Bây giờ tôi mới hiểu khóc như cha chết là khóc thế nào. Hình như đấy là cái khóc lớn nhất đời một con người. Mộ của cha tôi đặt trong nghĩa trang liệt sĩ. Vợ tôi mang theo máy ảnh bảo chụp mấy kiểu. Hôm sau tôi xin về luôn, ông Chưởng giữ lại nhưng tôi không nghe. Đường về vợ tôi bảo xe đi chậm. Ông Bổng lần đầu mới được đi xa, thích lắm. Ông bảo “Nước mình thật đẹp như tranh. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao phải yêu đất nước. Chứ ở quê ta, dù ngay Hà Nội có văn minh thật, tôi chẳng thấy yêu gì cả”. Vợ tôi bảo “Tại chú quen đấy. ở nơi khác cũng thế, họ lại thấy yêu Hà Nội”. Ông Bổng bảo “Thế là nơi này yêu nơi kia, người này yêu người kia. Tất cả đều đất nước mình, nhân dân mình cả. Vậy thì đất nước muôn năm, nhân dân muôn năm. Hoan hô đèn cù!”. XV Có lẽ câu chuyện của tôi kết thúc ở đây. Sau đó nếp sống của gia đình tôi trở lại như là trước ngày cha tôi nghỉ hưu. Vợ tôi tiếp tục công việc bình thường. Tôi đã hoàn thành công trình nghiên cứu điện phân. Ông Cơ trở nên ít nói, một phần vì bệnh cô Lài nặng hơn. Lúc rỗi, tôi giở đọc những điều cha tôi ghi chép. Tôi hiểu cha tôi hơn. Trên đây là những sự việc lộn xộn của hơn một năm cha tôi nghỉ hưu mà tôi chép lại. Tôi coi đấy như nén hương thắp nhớ người. Nếu có ai đã có lòng để mắt đọc điều tôi viết, xin lượng thứ cho tôi. Tôi xin cảm tạ. NGUYỄN HUY THIỆP Xem thêm Nhạc sĩ Phạm Đình Chương Dâng hết mật ngọt cho mối tình phụ bạc Thơ 1-2- 3 Hình thành tư duy thơ mới, sáng tạo, kết nối và hội nhập Thơ 1-2-3 Trần Thanh Dũng Những trang sách linh thiêng tự cháy Đọc lại Nguyên Hồng đầu thế kỷ XXI Nhà văn Nguyễn Tuân “Nhà tôi có gien giang hồ” Nguyễn Văn Đua From Wikipedia, the free encyclopedia Nguyễn Văn Đua sinh ngày 10 tháng 3 năm 1954 là chính trị gia người Việt Nam. Ông từng là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.[1] Quick facts Nguyễn Văn Đua, Chức vụ, Phó Bí thư Thường tr... ▼ Nguyễn Văn ĐuaChức vụPhó Bí thư Thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí MinhNhiệm kỳ19 tháng 11 năm 2006 – 1 tháng 4 năm 2014 7 năm, 133 ngàyBí thư Thành ủyLê Thanh HảiTiền nhiệmLê Hoàng QuânKế nhiệmVõ Văn ThưởngVị tríThành phố Hồ Chí MinhThông tin chungSinh10 tháng 3, 1954 69 tuổiSài GònNơi ởThành phố Hồ Chí Minh Anh Ba Đua gần đâу bỗng gâу ѕóng gió trên mạng хã hội khi là người trựᴄ tiếp ký quуết định ᴄả gan “điều ᴄhỉnh” quуết định 367 ᴄủa Thủ tướng Võ Văn Kiệt ᴠà ghi trong Điều 2 ᴄủa QĐ 6565 như thế nàу “QĐ nàу thaу thế QĐ 367 ᴄủa Thủ tướng”, đẩу người dân Thủ Thiêm ᴠào ᴄảnh mất đất hơn ᴄhụᴄ năm đang xem Tại sao nguyễn văn đua về hưu Cái “ᴄhòi” nàу ᴄhắᴄ ᴄhỉ là một phần nhỏ tài ѕản ᴄủa đang хem Tại ѕao nguуễn ᴠăn đua ᴠề hưuMột ᴄái ᴄhữ ký đem lại ᴄho “nhóm lợi íᴄh” hàng nghìn tỷ đồng bất ᴄhính thì ᴄả hành động liều lĩnh là điều dễ hiểu, lẽ phàm “đa kim ngân phá luật lệ” хưa naу đã trở thành quу luật. UBND một taу ᴄhe ᴄả bầu trời, ᴠì thế mới ᴄó ᴄhuуện “không tìm ra” tấm bản đồ 1/5000 kèm theo quуết định 367 ᴄủa Thủ tướng ᴄhính phủ ký năm một hành động ᴄủa ông Ba Đua đã khiến hàng trăm gia đình người dân ở Thủ Thiêm ᴠào ᴄảnh mất đất, uất hận3 ᴄhữ “không tìm ra” ᴄho thấу ѕuốt 15 năm ᴄáᴄ “lãnh ᴄhúa” Sài Gòn đã ᴄhẳng хem ᴄái bản đồ 1/5000 ấу ra gì, mặᴄ ѕứᴄ bóp méo, ᴠẽ ᴠời nhằm ᴄướp đất giao ᴄho ᴄáᴄ ᴄông tу BĐS để ᴄhia nhau hàng trăm nghìn tỷ ѕiêu lợi nhuận. Tiền mà nhóm lợi íᴄh nàу kiếm đượᴄ ᴄòn dễ hơn mafia buôn ma túу, thuốᴄ định 6565 ᴄủa Nguуên Phó Chủ tịᴄh Nguуễn Văn Đua táᴄ hại như thế nào?Theo bản đồ 1/5000 ᴄủa quуết định 367 năm 1996, Toàn bộ Thủ Thiêm ᴄhỉ ᴄó một khu nhà ở ᴄao ᴄấp ở phía bắᴄ bán đảo ᴠà khu tái định ᴄư, dọᴄ đại lộ Đông – Tâу là ᴄáᴄ ᴄao ốᴄ 30-100 lượng ᴠà diện tíᴄh nhà ᴄao tầng ở Thủ Thiêm ѕau khi ᴄó Quуết định 6565 do ông Nguуễn Văn Đua ký đã tăng lên gấp bội ѕo ᴠới quуết định 367 ᴄủa Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký năm thêm Lẩu Dê Trương Định Ngô Thời Nhiệm, Lẩu Dê 45 Ở Hồ Chí Minh Sau nàу, ѕẽ mọᴄ lên ᴄái Tháp Empire Citу 86 tầng trong Khu Lõi trung tâm ᴄủa Thủ Thiêm, gần nó là ᴄả một rừng nhà ᴄao tầng kháᴄ, tất ᴄả là hệ quả ᴄủa “điều ᴄhỉnh” qui hoạᴄh Thủ từ ᴠiệᴄ “điều ᴄhỉnh” qui hoạᴄh Thủ Thiêm mà hàng nghìn hộ dân bị thu hồi đất oan ứᴄ, ᴄhỉ đượᴄ nhận đền bù ᴠới giá rẻ mạt, ѕiêu lợi nhuận lọt ᴠào taу bọn ᴄướp đất. Hàng trăm dân oan хót ᴄủa đã dìu dắt nhau ra Trụ ѕở tiếp dân ᴄủa TTCP ở Hà Nội khiếu kiện nhiều năm ròng rã, mà ᴄho đến naу ᴠẫn ᴄhưa đượᴄ giải tóm lại, hành động “ᴠượt mặt” ᴄủa Nguуễn Văn Đua ký “điều ᴄhỉnh” qui hoạᴄh Thủ Thiêm, ᴄho хâу nhà ᴄao tầng bừa bãi trên ᴠùng đất уếu ᴠà thấp không ᴄhỉ phản lại khoa họᴄ qui hoạᴄh kiến trúᴄ đô thị lớn, mà táᴄ hại ᴄủa ᴠiệᴄ nàу là không thể ᴄân đo đong đếm nát lá phổi, lá gan ᴄủa Thành phố, để lại mối nguу hiểm ᴄho tương lai đối diện hiểm họa ѕụt lún, ngập lụt ᴄhỉ ᴠì đồng tiền dơ bẩn. Nguуễn Văn Đua…ᴠà nhiều taу ᴄộm ᴄán kháᴄ đã bị nêu tên, nhưng ᴄhưa đủ. Còn rất nhiều quan tham dính ᴠào đại án đất Thủ Thiêm ѕắp bị lộ. Ăn đất thì phải ngồi tù, ᴄhỉ ᴄó thể là như Autoхe Tướng về hưu là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, được đăng trên báo lần đầu tiên vào tháng sáu năm 1987. Tác phẩm là bức tranh hiện thực được khắc họa chi tiết về lối sống cùng tâm lý con người trong xã hội Việt Nam giai đoạn sau năm 1975. Vài nét khái quát về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày hai mươi chín tháng tư năm 1950 tại Thái Nguyên nhưng khi được mười tuổi thì nhà văn đã chuyển về quê ở Hà Nội để sinh sống rồi sau đó gắn bó với thủ đô đến tận những giây phút cuối đời. Từ thuở nhỏ, ông đã theo gia đình lưu lạc khắp các miền đồng bằng nông thôn Bắc Bộ. Những ký ức ngày thơ bé ấy đã hằn sâu trong trí nhớ của nhà văn và sau này, chúng trở thành những chất liệu hiện thực đắt giá để ông sáng tạo nên các tác phẩm nghệ thuật của mình. Thông tin giản lược về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huy Thiệp tốt nghiệp khoa sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội và từng có thời gian dài tham gia dạy học ở vùng rừng núi Tây Bắc. Đó là lý do vì sao ta bắt gặp rất nhiều các tác phẩm nổi tiếng của nhà văn được lấy cảm hứng từ những câu chuyện lịch sử, tiểu biểu như là bộ ba Kiểm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết với sự xuất hiện của vua Gia Long hay Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam và Chút thoáng Xuân Hương. Bên cạnh đó, những năm tháng sinh sống và làm việc giữa đất trời Tây Bắc cũng đã cho ông nhiều linh cảm để sáng tác nên những áng văn gây ấn tượng mạnh như Muối của rừng hay Những ngọn gió Hua Tát. Ngòi bút truyện ngắn đậm chất Nguyễn Huy Thiệp Nhà văn bộc lộ sức sáng tạo dồi dào của mình ở nhiều lĩnh vực từ viết văn xuôi đến sáng tạo kịch bản và thậm chí là ra mắt tiểu luận văn chương. Thế nhưng thể loại văn học mà Nguyễn Huy Thiệp để lại dấu ấn cá nhân đậm nét nhất chính là truyện ngắn. Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huy Thiệp không né tránh mà nhìn thẳng vào mặt trái của hiện thực và phơi bày tất cả ung nhọt của xã hội, sự mai một của những giá trị tinh thần bằng những câu văn ngắn, tốc độ nhanh và ngữ pháp đơn giản. Các câu văn trong truyện ngắn của ông đa số là câu đơn, tạo nên nhiều khoảng trắng và biến thiên truyện thành những mảnh vụn vỡ tưởng chừng như rời rạc nhưng thực chất sau những khoảng trắng ấy là nhiều ẩn dụ đầy ám ảnh. Người trao quyền phán xét cho độc giả Nổi bật trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là một giọng văn cô đọng, khách quan và có phần sắc lạnh. Nhà văn thường viết những cái kết mở và thậm chí ở một số truyện ngắn, ông còn xây dựng nhiều kết cục khác nhau cho một nhân vật. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp sở hữu giọng văn khách quan và độc đáo Bằng lối trần thuật ấy, thế giới nhân vật và nội dung câu chuyện luôn hiện ra một cách trung thực trước mắt người đọc, độc giả không bị chi phối bởi thiên kiến của người sáng tác mà được tự do nhìn nhận tác phẩm từ góc độ của mình. Mở ra với muôn vàn khả năng và sự biến thiên lạ kỳ, các tác phẩm của ông luôn khiến ta phải suy tư về các nhân vật, trăn trở trước những mặt tối của đời sống và thậm chí là trở ngược vào bên trong mà tự vấn chính mình. Sự kết hợp độc đáo giữa thơ và văn xuôi Các vần thơ được Nguyễn Huy Thiệp vận dụng đến từ nhiều nguồn khác nhau, có khi đó là thơ mượn của các nhà thơ khác như Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du, có khi là thơ ca dân gian được tác giả sáng tạo lại và thậm chí nhiều bài còn do chính nhà văn sáng tác. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã kết hợp nhuần nhuyễn hai thể loại thơ và văn xuôi Việc đưa thơ vào văn xuôi không phải là một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ, ta nhớ đến Nguyễn Tuân trong tùy bút Người lái đò sông Đà của mình đã mang những vần thơ đậm chất trữ tình lên làm lời đề từ cho trang văn. Thế nhưng phải đến Nguyễn Huy Thiệp, ta mới thấy việc sử dụng thơ song hành với văn xuôi trở đi trở lại trong các tác phẩm của ông tạo nên hiệu ứng thẩm mỹ đậm nét và hình thành một phong cách nghệ thuật đặc trưng. Những vần thơ được nhà văn chêm vào không chỉ dừng lại ở việc làm đề từ mà còn góp phần thể hiện dòng suy nghĩ của nhân vật, tăng tính trữ tình cho thể loại tự sự và giúp tác giả có điều kiện khắc họa sự đa diện, nhiều chiều của cuộc sống trong các tác phẩm của mình. Tướng về hưu là hiện thực cuộc sống thời hậu chiến Tướng về hưu được viết dưới dạng thức những dòng nhật ký của nhân vật Thuần, người con trai của một vị tướng cả đời phục vụ cách mạng và chiến đấu cho độc lập tự do về những ngày tháng cha mình chấm dứt bao vất vả đời lính để an hưởng tuổi già giữa xã hội hòa bình. Suốt thời thơ ấu của Thuần, bóng dáng cha chỉ nhạt nhòa hiện hữu qua đôi dòng thư từ ngắt quãng thế nên với lần về hưu này của vị tướng Thuấn, ta mong chờ đây sẽ là dịp để hai người hàn gắn mối quan hệ và bù đắp những mất mát trong quá khứ. Bìa sách Tướng về hưu Ấy vậy mà Nguyễn Huy Thiệp đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Sự trở về của cha Thuần không mang lại tình cảm ấm áp bị đánh cắp bao năm thay vào đó nó lại khiến anh thấy rõ sự trống rỗng và mai một nơi từng người thân trong gia đình mình và thậm chí là nơi mỗi con người trong cả xã hội đương thời. Mỗi chương truyện qua đi là sự nối tiếp của những nứt vỡ để bộc lộ dáng hình cô đơn của con người, tô đậm sự lạc lõng và mất kết nối cũng như làm nổi lên niềm trăn trở về khoảng cách giữa chiến tranh và hòa bình. Cuộc đời đa diện, lòng người đa đoan trong Tướng về hưu Đã có một thời đại, văn chương mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, từng câu văn nặng về ca ngợi những phẩm chất cao cả của những con người thuộc về cộng đồng nhân dân ta và dân tộc ta. Một bìa sách khác của truyện ngắn Tướng về hưu Ở mỗi tác phẩm đều tồn tại một lằn ranh phân tuyến “địch-ta” với lăng kính đánh giá cuộc đời vô cùng giản đơn rằng thế giới của địch thì luôn xấu xa, tiêu cực còn cộng đồng người của ta thì phổ biến với nhiều mặt tốt đẹp, lạc quan, hy vọng và lòng quyết tâm sắt đá giành lại độc lập tự do. Nói cách khác, khi ấy văn học trở thành công cụ để minh họa cho lý tưởng Đảng, niềm tin dân tộc và cổ vũ không khí chiến đấu. Tướng về hưu là một trong những truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Thế rồi, chiến tranh kết thúc, phe địch, tượng trưng cho cái xấu đã bị diệt trừ, phe chính nghĩa là quân ta toàn thắng, nhân dân mang niềm háo hức và vui sướng bước vào nền hòa bình trong cõi lòng ngập tràn hy vọng về những ngày tháng mới tươi sáng. Hòa theo không khí chiến thắng, nền văn học nước nhà tiếp tục phát triển theo quán tính của sự minh họa được nhắc đến ở trên nhưng trong lúc đó, có những nhà văn đã tỉnh dậy khỏi hào quang của cuộc chiến để trở về với đời sống hiện thực và nhận ra những thay đổi thầm lặng nhưng đáng cảnh báo đang dần làm mai một nhân cách con người trong xã hội đương thời. Nguyễn Minh Châu là “một trong những người mở đường tinh anh và tài năng” cho việc thay đổi tư duy khác thác hiện thực này và Nguyễn Huy Thiệp đã tiếp bước con đường mà nhà văn của Bức tranh hay Chiếc thuyền ngoài xa chỉ ra. Bìa sau của tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Trong thế giới của Tướng về hưu, các nhân vật không hiện lên với sự tươi sáng giản đơn, ta chẳng thể nào phân biệt một cách rạch ròi ai mới thực sự là người tốt và đâu là kẻ xấu. Thay vào đó, nhà văn đã dùng ngòi bút cô đọng và sắc lạnh để đẽo gọt tỉ mỉ từng dáng vẻ phức tạp cùng trăm mối mâu thuẫn ngổn ngang trong từng nhân vật. Cô Thủy là mẫu người của lối sống thực dụng đầy sa đọa, cô xem đồng tiền là cứu cánh và sẵn sàng vụ lợi trên mọi phương diện. Thế nhưng ta cũng không thể nào phủ nhận Thủy là một nàng dâu sắc sảo, nết na, hiểu thấu nhân tình thế thái và biết cách quán xuyến chu đáo mọi việc trong nhà. “Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản, công việc là nạo phá thai. Hàng ngày các rau thai nhi bỏ đi, Thủy cho vào phích đá đem về. Ông Cơ nấu lên cho chó, cho lợn.” – Tướng về hưu Ông Bổng, em trai cùng cha khác mẹ với vị tướng về hưu Thuấn, luôn khiến người đọc phản cảm với sự tham lam, trơ trẽn và giảo hoạt của mình. Thế nhưng vào thời khắc ông bật khóc vì được gọi “là người”, ta bỗng nhiên chỉ có thể câm nín và thở dài trong bất lực. Tướng về hưu mang ý nghĩa cảnh tỉnh sâu xa Thiên tiểu thuyết đã cho ta thấy được khoảng cách giữa đời sống hòa bình hậu chiến và sự văn minh, phát triển thực sự của một quốc gia. Bi kịch lạc loài của vị tướng Thuấn cùng niềm cô đơn của nhân vật Thuần trong một xã hội chạy theo lối sống vật chất, thực dụng mà bấy giờ người người cho là tiến bộ đã khiến ta nhận ra một sự thật. Tướng về hưu đã mang thức tỉnh sâu sắc lương tâm bạn đọc Thành quả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mấy chục năm qua chỉ mới là tiền đề cho sự phát triển chứ không phải là điều kiện chín muồi để cải tạo xã hội cũ và xây dựng cuộc sống mới. “Cái Vi bảo “Đấy có phải là ngậm miệng ăn tiền không bố?” Tôi khóc “Các con không hiểu đâu. Bố cũng không hiểu, đấy là mê tín.” Cái Vi bảo “Con hiểu đấy. Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền. Chết cũng cần.” Tôi thấy cô đơn quá. Các con tôi cũng cô đơn. Cả đám đánh bạc, cả cha tôi nữa.” – Tướng về hưu Để hoàn thành được mộng lớn của dân tộc, ta còn phải bắt tay vào giải quyết những vấn đề khó khăn và phức tạp hơn rất nhiều, từ việc vứt bỏ cái lạc hậu trong quá khứ, loại trừ mầm mống của sự tha hóa mới nảy sinh đến đưa ra những giải pháp thiết thực để đảm bảo an sinh xã hội và giúp đất nước đi lên một cách bền vững. Đó là một hành trình rất dài và sẽ luôn tiếp diễn, nó đòi hỏi sự chung tay góp sức không những của những thế hệ cha ông xưa mà còn là của lớp người trẻ ngày nay và mãi sau này nữa. Tướng về hưu đã tạo nên làn sóng bàn luận sôi nổi trên văn đàn Hiếm có nhà văn nào mà ngay từ khi ra mắt với độc giả và giới văn nghệ đã nhận được sự quan tâm lớn như Nguyễn Huy Thiệp. Với Tướng về hưu, ông đã tạo nên đời sống văn học sôi nổi kéo dài cả mấy năm trời và còn nóng bỏng đến tận bây giờ. Có rất nhiều bài phê bình, đánh giá, bàn luận và phát biểu cảm nghĩ hướng về tác phẩm, từ bao lời khen cho sự độc đáo trong nội dung và cách viết ấn tượng của nhà văn đến những tranh cãi vây quanh giọng văn sắc lạnh khi Nguyễn Huy Thiệp đề cập đến những mặt trái của thời kỳ quá độ. Truyện ngắn Tướng về hưu đã khuấy động sâu sắc sự quan tâm của dư luận Dù nhà văn đã phải hứng chịu bao ánh mắt xem xét và thăm dò, đến cuối cùng độc giả cùng giới phê bình đều đồng lòng công nhận tài năng văn chương xuất sắc của Nguyễn Huy Thiệp. Ngòi bút của ông có thể thẳng thắn vạch trần cái xấu, cái ác bằng một giọng văn dửng dưng và tàn nhẫn nhưng trái tim nhà văn chưa bao giờ thôi đau đớn trước những điều trông thấy. Tác giả của Tướng về hưu đã đi đến tận cùng trong việc phơi bày sự đốn mạt của con người để thức tỉnh lương tâm xã hội. Từ văn học đến điện ảnh Lấy cảm hứng từ tác phẩm văn học cùng tên được chấp bút bởi nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, phim Tướng về hưu là một trong những tác phẩm xuất sắc của điện ảnh Việt Nam giai đoạn đầu đổi mới. Dưới sự chỉ đạo diễn xuất tài tình của đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi và sự góp mặt của hàng loạt những nghệ sĩ tên tuổi lúc bấy giờ như NSND Hoàng Cúc hay NSƯT Đoàn Anh Thắng, bộ phim đã phần nào chuyển tải được tinh thần của nguyên tác và thành công mang về Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1990. Ảnh quảng bá phim Tướng về hưu Tháng ba năm 2021 giới văn nghệ và các thế hệ độc giả bao năm gắn bó với Nguyễn Huy Thiệp đã trải qua một mất mát lớn trước sự ra đi của nhà văn. Thế nhưng với những đóng góp to lớn mà ông đã để lại cho nền văn học nước nhà, ta tin chắc rằng tâm hồn và cốt cách Nguyễn Huy Thiệp sẽ mãi kết nối với bạn đọc thông qua các hình tượng nhân vật sống động của mình. Hạnh Vi "Tướng về hưu" là câu chuyện đau xót về những tình cảm gia đình đã mất đi trong cơn lốc của thời mở cửa. Một vị tướng rời quân ngũ trở về gia đình và hoàn toàn lạc lõng trong một đời sống đang thay đổi với những giá trị bị đảo lộn hàng ngày. Tình cảnh gia đình ông Thuấn dường như rất phổ biến trong xã hội Việt Nam lúc giao thời, khi đồng tiền len lỏi và chi phối trong mọi mối quan hệ. Ông Thuấn như người xa lạ trong chính ngôi nhà của mình trước cô con dâu sắc sảo, người con trai nhu nhược và một bà vợ lẩn là một vai diễn phản diện trong phim, trong đó hình ảnh cô mang nhau thai trẻ con từ Bệnh viện Sản – nơi mình làm việc về để xay ra nuôi đàn chó béc giê nhằm mục đích kinh doanh đã gây chấn động. Đây là một việc làm động chạm đến tâm linh của người Á Đông và gây cảm giác ghê rợn đến tận do Nguyễn Khắc Lợi làm đạo diễn, ra mắt khán giả năm 1988, với sự tham gia của diễn viên nổi tiếng như diễn viên Mạnh Linh vai tướng Thuấn, NSND Hoàng Cúc vai Thủy, NSND Trần Hạnh ông cơ; NSND Hoàng Dũng Khổng, cùng các diễn viên Chiều Xuân, Đoàn Anh Thắng, Tú Oanh, Văn Toản, Thu An… Trong đó, với diễn xuất chân thực, sắc sảo, nhiều mánh khóe đến ghê rợn, NSND Hoàng Cúc đã giành giải Diễn viên nữ xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam 1990. Vai diễn phản diện nhận được giải thưởng cao nhất thời đó cũng gây nhiều tranh người thợ xẻ "phá" nguyên mẫu?Trong truyện ngắn, Bường là một kẻ ma mãnh, vừa thô thiển vừa giỏi lý luận, vừa hiểu biết vừa thiển cận. Anh ta là hiện thân cho niềm tin của người lao động kiệt quệ, vừa kiêu hãnh vừa mù quáng. Trong khi đó, Bường của điện ảnh là biểu trưng của cái ác, trong thế đối nghịch với cái thiện. Với sự phô bày những hành động sai lầm, khuất tất, dối lừa và hủy hoại rừng, cuối cùng, Bường đã trả giá đắt, một quả báo bằng máu của chính đứa con ruột. Ngọc trong phim cũng nổi loạn hơn khi được miêu tả tỉ mỉ trong mối quan hệ tình cảm với hai người phụ nữ, Phượng và phim được sản xuất năm 1998, đạo diễn Vương Đức cho biết, ông mất gần 5 năm để thuyết trình, thuyết phục, bảo vệ kịch bản để phim có thể đi vào sản xuất. Phim có sự tham gia của diễn viên Quốc Trị, Lê Vũ Long, Vũ Đình Thân, Thu Hà. Khi phim ra mắt, có ý kiến cho rằng đạo diễn đã phá hỏng tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp. Dù vậy, phim vẫn giành được nhiều sự ghi nhận của giới chuyên môn giải Bông sen bạc, Kịch bản xuất sắc nhất, Nam diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 12."Thương nhớ đồng quê" từng bị coi là "thương hại đồng quê"Phim có sự tham gia của Tạ Ngọc Bảo vai Nhâm, Thúy Hường - ca sĩ của đoàn quan họ Bắc Ninh vai Ngữ, Lê Vân vai Quyên. Khi chuyển thể, đạo diễn, NSND Đặng Nhật Minh vẫn không triển khai trên cơ sở cốt truyện cùng đường dẫn xuyên suốt, mà cấu trúc theo hệ thống sự kiện, dữ liệu về tính cách nhân vật."Thương nhớ đồng quê" được đạo diễn thực hiện từ lời đặt hàng của Đài NHK Nhật Bản. Ông quyết định chọn truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp vì "thấy ở truyện ngắn này một không gian điện ảnh đầy gợi cảm. Các nhân vật chỉ được phác họa vài nét về tính cách, còn thoại thì hầu như không có. Tất cả chỉ là những lời kể ngắn gọn của nhân vật Nhâm, một thanh niên vừa mới lớn"."Tôi cẩn thận mời tác giả văn học lại nhà trình bày ý định về mối quan hệ giữa ba nhân vật Quyên, Nhâm, Ngữ để tạo ra cái lõi kịch tính của bộ phim. Trong truyện ngắn không có mối quan hệ tay ba này, nhưng tôi thấy nó rất cần thiết. Nhâm sống với chị Ngữ trong một nhà, nhưng cậu không biết rằng cậu là chỗ dựa tình cảm duy nhất đối với chị Ngữ trong những ngày sống cô độc xa chồng. Chỉ khi xuất hiện Quyên, cô gái Việt kiều di tản trở về và Nhâm bị hút hồn vào người phụ nữ đó thì những tình cảm thầm kín bên trong của người chị dâu mới trỗi dậy. Đến lúc này Nhâm mới hiểu được hết nỗi cô đơn của chị dâu mình, cậu cảm thấy xúc động trước những tình cảm của chị Ngữ dành cho cậu. Một thứ tình cảm hơn cả tình chị em đã xuất hiện giữa hai người. Khi tôi vẽ ra trên giấy sơ đồ tay ba của mối quan hệ đó thì Thiệp thốt lên "Ông thắng rồi. Bộ phim nhất định thành". Thiệp cũng gợi ý cho tôi nên kết hợp thêm truyện ngắn Những bài học nông thôn", NSND Đặng Nhật Minh công chiếu đã nhận được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế như Giải A Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1995, Giải đạo diễn xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam lần XI năm 1996 và nhiều giải thưởng tại các Liên hoan phim của Pháp, Thụy Sỹ, Hà Lan, Liên hoan phim Quốc tế Châu Á – Thái Bình Dương lần thứ 42 tại New Zealand…"Tướng về hưu" là gặp thời thôi!Khi những bộ phim này được công chiếu, nhiều người đã tò mò muốn biết cảm nhận của tác giả văn học. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng ví von "Những người thợ xẻ" là "vụ án những người thợ xẻ" ý nói bị hình sự hóa so với truyện. Còn với "Tướng về hưu", khi được nhận xét là làm chưa tới so với truyện, ông gật "Đúng rồi, xem thế nào được". Tương tự với "Thương nhớ đồng quê", họa sĩ Nguyễn Hồng Hưng - bạn của nhà văn nhận xét là "phim của bọn thành phố thương hại đồng quê".Trong số 3 tác phẩm được chuyển thể lên phim, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp không đánh giá cao "Tướng về hưu", dù nó là tác phẩm làm nên cơn "chấn động" làng văn. Lúc đó, ông tướng không có đời thường, và nó đã làm được hai việc đổi mới cả hình thức lẫn nội dung. Theo tác giả, đây là tác phẩm đặc sắc có tính chất bạo động về ngôn ngữ, còn nội dung thì đưa được "đạo" vào. Tuy vậy "Tướng về hưu" vẫn có sự rào đón trong cách kể chuyện, chẳng qua gặp thời thôi, còn đổi mới triệt để phải là "Không có vua", sau đó là "Con gái thủy thần", "Những người thợ xẻ", bộ ba truyện giả lịch sử "Kiếm sắc", "Vàng lửa", "Phẩm tiết"... ngọn gió lạ này sẽ còn thổi suốt chiều dài lịch sử văn học Việt Nhật

tại sao nguyễn văn đua về hưu